TÀI LIỆU TRUYỀN THÔNG PHÒNG, CHỐNG ĐUỐI NƯỚC
BỆNH VIỆN ĐA KHOA BÌNH THUẬN
KHOA HỒI SỨC CẤP CỨU
TÀI LIỆU TRUYỀN THÔNG
PHÒNG, CHỐNG ĐUỐI NƯỚC
ĐỪNG ĐỂ MỘT PHÚT BẤT CẨN – MẤT ĐI MỘT CUỘC ĐỜI
Hình minh họa: Phòng ngừa đuối nước, cứu hộ an toàn và hồi sinh tim phổi.
|
NHẬN BIẾT SỚM • CỨU HỘ AN TOÀN • SƠ CẤP CỨU ĐÚNG CÁCH • GIẢM TỬ VONG
|
I. ĐUỐI NƯỚC – TAI NẠN NGUY HIỂM CÓ THỂ XẢY RA VỚI BẤT KỲ AI
Đuối nước là tình trạng suy hô hấp xảy ra do bị chìm hoặc ngập trong chất lỏng. Hậu quả có thể là tử vong hoặc tổn thương não do thiếu oxy. Tai nạn có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là trẻ em, tại ao, hồ, sông, suối, biển, kênh mương, hồ bơi, giếng nước và các dụng cụ chứa nước trong gia đình.
Đuối nước có thể diễn ra rất nhanh và không phải lúc nào nạn nhân cũng kêu cứu. Phòng ngừa, giám sát và biết sơ cấp cứu đúng cách là những yếu tố rất quan trọng.
II. NGUYÊN NHÂN THƯỜNG GẶP
-
Trẻ em tự ý tắm sông, hồ, ao, suối hoặc chơi gần khu vực có nước khi không có người lớn giám sát.
-
Không biết bơi hoặc thiếu kỹ năng xử lý khi gặp dòng chảy mạnh, nước sâu, sóng lớn hay chuột rút.
-
Bơi ở khu vực không an toàn, không có nhân viên cứu hộ hoặc không tuân thủ biển cảnh báo.
-
Không mặc áo phao khi đi thuyền, ghe, tàu hoặc tham gia hoạt động dưới nước.
-
Sử dụng rượu bia trước khi bơi; chủ quan, bơi một mình.
-
Giếng, bể, lu, chum, vại và các dụng cụ chứa nước không có nắp đậy hoặc rào chắn an toàn.
III. DẤU HIỆU NHẬN BIẾT NGƯỜI BỊ ĐUỐI NƯỚC
-
Đầu thấp sát mặt nước, miệng lúc chìm lúc nổi; cố gắng ngoi lên nhưng không giữ được đầu trên mặt nước.
-
Quạt tay bất thường, không thể bơi tiến về phía trước hoặc không thể đáp lại khi được gọi.
-
Nằm bất động, úp mặt xuống nước hoặc có biểu hiện vùng vẫy yếu dần.
-
Sau khi được đưa lên bờ: ho, khó thở, thở bất thường, tím tái, lơ mơ, co giật hoặc mất ý thức.
Lưu ý: Không chờ nạn nhân kêu cứu mới hành động. Khi thấy người có biểu hiện bất thường dưới nước, hãy báo động và tổ chức cứu hộ an toàn ngay.
IV. CÁCH PHÒNG TRÁNH ĐUỐI NƯỚC
1. Đối với trẻ em
-
Không để trẻ tự ý đi tắm sông, hồ, ao, suối, biển khi không có người lớn đi cùng.
-
Giám sát trực tiếp, liên tục; ở gần và trong tầm với khi trẻ ở trong hoặc gần nước. Không giao việc giám sát cho trẻ khác.
-
Dạy trẻ học bơi và kỹ năng an toàn dưới nước phù hợp với độ tuổi; nhắc trẻ không đùa nghịch, xô đẩy ở khu vực có nước.
-
Cho trẻ mặc áo phao đúng kích cỡ khi tham gia hoạt động dưới nước hoặc đi phương tiện thủy.
2. Đối với gia đình và cộng đồng
-
Đậy kín lu, chum, vại, bể nước; làm rào chắn và cửa khóa an toàn quanh ao, hồ, bể bơi.
-
Không để trẻ chơi gần sông, suối, kênh mương, hố nước công trình.
-
Đặt biển cảnh báo tại khu vực nước sâu, dòng chảy nguy hiểm; bố trí phao và dụng cụ cứu hộ ở nơi cần thiết.
-
Tuyên truyền, nhắc nhở trẻ và người dân, nhất là trong dịp nghỉ hè, mùa mưa bão và các kỳ nghỉ lễ.
3. Đối với người lớn
-
Không bơi khi đã uống rượu bia hoặc sử dụng chất làm giảm khả năng nhận thức.
-
Không bơi một mình; không bơi ở vùng nước không rõ độ sâu, có dòng chảy mạnh hoặc có cảnh báo nguy hiểm.
-
Luôn mặc áo phao khi đi thuyền, ghe, tàu; tuân thủ hướng dẫn của lực lượng cứu hộ.
-
Rời khỏi mặt nước khi thời tiết xấu, có sấm sét, sóng lớn hoặc tầm nhìn hạn chế.
V. KỸ NĂNG CỨU NGƯỜI BỊ ĐUỐI NƯỚC AN TOÀN
Nguyên tắc quan trọng: CỨU NGƯỜI NHƯNG PHẢI ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO BẢN THÂN. Người không được huấn luyện cứu hộ dưới nước không nên tự ý nhảy xuống cứu vì có thể trở thành nạn nhân tiếp theo.
-
Hô hoán, gọi người hỗ trợ và gọi cấp cứu 115 càng sớm càng tốt.
-
Ưu tiên cứu từ trên bờ: đưa sào dài, dây, phao cứu sinh hoặc vật nổi để nạn nhân bám vào; kéo nạn nhân vào bờ khi bảo đảm an toàn.
-
Chỉ xuống nước cứu khi được huấn luyện, có phương tiện bảo hộ phù hợp và điều kiện an toàn.
-
Khi đưa được nạn nhân lên bờ, nhanh chóng đánh giá ý thức và hô hấp; tiến hành sơ cứu ngay nếu nạn nhân không thở bình thường.
VI. SƠ CẤP CỨU NGƯỜI BỊ ĐUỐI NƯỚC
Sơ cứu nhanh, đúng cách giúp duy trì oxy đến não và các cơ quan quan trọng trong khi chờ đội cấp cứu. Không trì hoãn hồi sức để thực hiện các biện pháp không có lợi.
1. Đưa nạn nhân lên nơi an toàn và đánh giá
-
Đưa nạn nhân ra khỏi nước bằng phương pháp an toàn; đặt nằm ngửa trên mặt phẳng cứng, khô ráo.
-
Kiểm tra đáp ứng và kiểm tra nhịp thở bình thường trong tối đa 10 giây.
-
Nhờ người gọi 115, lấy máy khử rung tim tự động (AED) nếu có và hỗ trợ sơ cứu.
2. Mở đường thở
-
Dùng kỹ thuật ngửa đầu – nâng cằm để mở đường thở nếu không nghi ngờ chấn thương cột sống cổ.
-
Lấy dị vật nhìn thấy rõ trong miệng; không móc họng mù và không cố ép nước ra khỏi phổi.
TÀI LIỆU TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE

3. Hồi sinh tim phổi (CPR)
Nếu nạn nhân bất tỉnh và không thở bình thường hoặc chỉ thở ngáp cá, cần bắt đầu hồi sinh tim phổi ngay.
-
Người đã được huấn luyện: với đuối nước, ưu tiên bắt đầu bằng 2 nhịp thổi ngạt hiệu quả, sau đó ép tim và thổi ngạt theo chu kỳ 30 lần ép – 2 lần thổi (30:2).
-
Ép tim ở giữa ngực, trên nửa dưới xương ức; tốc độ 100–120 lần/phút.
-
Ở người lớn, ép sâu khoảng 5–6 cm, để lồng ngực nở hoàn toàn sau mỗi lần ép và hạn chế tối đa gián đoạn.
-
Ở trẻ em, độ sâu ép khoảng 1/3 đường kính trước–sau lồng ngực; kỹ thuật và số người cứu có thể làm thay đổi cách đặt tay.
-
Nếu người cứu không được huấn luyện hoặc không thể thổi ngạt, hãy ép tim liên tục và làm theo hướng dẫn của tổng đài 115.
TÀI LIỆU TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE

4. Sử dụng AED nếu có
-
Bật máy, làm khô nhanh vùng ngực và dán điện cực theo hình hướng dẫn trên miếng dán.
-
Làm theo hướng dẫn bằng giọng nói; không chạm vào nạn nhân khi máy phân tích nhịp hoặc yêu cầu sốc điện.
-
Tiếp tục CPR ngay sau khi máy yêu cầu. Không trì hoãn hồi sức để tìm AED.
TÀI LIỆU TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE

5. Khi nạn nhân đã tỉnh và thở bình thường
-
Đặt nằm nghiêng tư thế an toàn nếu không nghi ngờ chấn thương; giữ ấm và thay quần áo ướt khi có điều kiện.
-
Theo dõi liên tục ý thức, nhịp thở, màu sắc da và tình trạng toàn thân.
-
Đưa đến cơ sở y tế để được đánh giá. Không tự ý cho ăn uống khi chưa tỉnh táo hoàn toàn.

|
GHI NHỚ: Đuối nước gây thiếu oxy nên thông khí/thổi ngạt có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, không trì hoãn ép tim khi nạn nhân không thở bình thường. Làm theo hướng dẫn của tổng đài cấp cứu và nhân viên y tế.
|
VII. NHỮNG SAI LẦM CẦN TRÁNH
-
Không dốc ngược nạn nhân, vác lên vai chạy hoặc treo chân để tháo nước.
-
Không mất thời gian ép bụng, ép ngực để làm nước chảy ra; việc này làm chậm hồi sức và có thể gây hại.
-
Không móc họng mù, không cho uống nước, thuốc hoặc thức ăn khi nạn nhân chưa tỉnh táo hoàn toàn.
-
Không trì hoãn CPR để chờ nhân viên y tế đến.
-
Không bỏ cuộc khi nạn nhân chưa hồi phục; tiếp tục hồi sức cho đến khi nạn nhân có dấu hiệu sống, đội cấp cứu tiếp nhận hoặc người cứu không thể tiếp tục vì lý do an toàn.
VIII. KHI NÀO CẦN ĐẾN BỆNH VIỆN?
Gọi 115 và đưa nạn nhân đến cơ sở y tế khi có khó thở, ho nhiều, thở bất thường, tím tái, SpO₂ giảm, lơ mơ, co giật, hôn mê, hạ thân nhiệt, chấn thương kèm theo hoặc đã từng cần hồi sức tim phổi. Người vừa bị đuối nước dù đã tỉnh lại vẫn cần được nhân viên y tế đánh giá nguy cơ và quyết định theo dõi phù hợp.
Tại bệnh viện, người bệnh được đánh giá hô hấp, tuần hoàn, tri giác, tình trạng thiếu oxy và các tổn thương phối hợp; được hỗ trợ oxy, thông khí, hồi sức và theo dõi theo chỉ định chuyên môn.
IX. THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG: 5 KHÔNG – 5 CÓ
|
5 KHÔNG
|
5 CÓ
|
|
Không để trẻ tự ý tắm sông, hồ, ao, suối.
|
Có người lớn giám sát trẻ liên tục.
|
|
Không để trẻ nhỏ một mình gần nơi có nước.
|
Có áo phao khi tham gia hoạt động dưới nước.
|
|
Không bơi khi đã uống rượu bia.
|
Có kỹ năng bơi và kỹ năng an toàn dưới nước.
|
|
Không bơi tại khu vực nguy hiểm, không có cứu hộ.
|
Có phương tiện cứu hộ tại khu vực nguy cơ.
|
|
Không nhảy xuống cứu người khi thiếu kỹ năng, phương tiện an toàn.
|
Có kiến thức sơ cấp cứu và hồi sinh tim phổi.
|
PHÁT HIỆN SỚM – CỨU HỘ AN TOÀN – SƠ CỨU ĐÚNG CÁCH – GIÀNH LẠI SỰ SỐNG!
X. LỜI KẾT
Đuối nước là tai nạn nguy hiểm nhưng có thể phòng tránh nếu mỗi người dân nâng cao ý thức bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng. Mỗi người hãy trở thành một tuyên truyền viên tích cực, cùng xây dựng môi trường sống an toàn, đặc biệt là bảo vệ trẻ em trước nguy cơ đuối nước.
Với vai trò là nhân viên y tế, chúng ta không chỉ cấp cứu và điều trị người bệnh mà còn có trách nhiệm tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trang bị kiến thức phòng, chống tai nạn thương tích cho cộng đồng.
[KHOA HỒI SỨC CẤP CỨU BỆNH VIỆN ĐA KHOA BÌNH THUẬN]